Đánh Giá Kết Quả Chăm Sóc Hệ Thống Tưới Rửa Kháng Sinh Cho Bệnh Nhi Sau Phẫu Thuật Viêm Xương Tủy Tại Khoa Chỉnh Hình Nhi – Bệnh Viện Nhi Trung Ương

Nguyen Thu Huong

Main Article Content

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả chăm sóc hệ thống tưới rửa kháng sinh cho bệnh nhi sau phẫu thuật viêm xương tủy theo đường máu tại khoa Chỉnh hình Nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương.


Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 54 bệnh nhi viêm xương tủy theo đường máu được phẫu thuật theo phương pháp khoan xương, đặt hệ thống tưới rửa kháng sinh tại khoa Chỉnh hình Nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020.


Kết quả: Thường gặp ở trẻ từ >30 ngày đến < 5 tuổi chiếm 53,7 %. Tỷ lệ trẻ trai / trẻ gái = 1/1. Tỷ lệ mắc bệnh ở nông thôn (61,1%) cao hơn ở thành thị (38,9%). Triệu chứng sốt: Trước tưới rửa 77,8%, ngày thứ 3 còn 48,1%, ngày thứ 7 còn 3,7%. Đau: Trước tưới rửa 98,1%, ngày thứ 3 còn 50%, ngày thứ 7 còn 1,9%. Sưng nề: Trước tưới rửa 94,7%, ngày thứ 3 còn 38,9%, ngày thứ 7 còn 5,6%. Số lượng bạch cầu bình thường: Trước tưới rửa chiếm 20,4%, ngày thứ 3 chiếm 24,1%, ngày thứ 7 chiếm 57,4%. Số lượng bạch cầu trung tính bình thường: Trước tưới rửa chiếm 38,9%, ngày thứ 3 chiếm 55,6%, ngày thứ 7 chiếm 75,9%. Phản ứng CRP bình thường: Trước tưới rửa chiếm 1,9%, ngày thứ 3 chiếm 1,9%, ngày thứ 7 chiếm 29,6%. Nuôi cấy dịch rửa: Trước tưới rửa dương tính 94,4%, ngày thứ 3 chiếm 61,1%, ngày thứ 7 chiếm 31,5%. Trong 54 bệnh nhi có 18 trường hợp tắc: 16,7% tắc đầu vào, 83,3% tắc đầu ra. Tắc do gập dẫn lưu chiếm 66,7%, do cục máu đông chiếm 22,2%, do hết dịch rửa chiếm 11,1%.


Kết luận: Qua chăm sóc hệ thống tưới rửa kháng sinh ở 54 bệnh nhi viêm xương tủy theo đường máu chúng tôi nhận thấy, các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng đều thay đổi theo chiều hường tốt lên từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 7.

Article Details

Từ khóa

Viêm xương tủy theo đường máu, chăm sóc, tưới rửa kháng sinh, Bệnh viện Nhi Trung ương.

Các tài liệu tham khảo

1. Thai Van Binh (2018), Research and treatment of acute hematogenous osteomyelitis in children ", Medical doctoral thesis, Military Medical Academy. Ị Vietnamese
2.
3. Tran Dinh Chien, Nguyen Van Dai (2006), "Osteomyelitis", Orthopedic Trauma Pathology, Hanoi People's Army Publishing House, page 193-200. In Vietnamese.

4. Bonhoeffer J., Haeberle B., Schaad U.B., et al (2001), "Diagnosis of acute haematogenous osteomyelitis and septic arthritis: 20 years experience at the University Children's Hospital Basel", Swiss Med Wkly, 131, pp. 575-581.
5. Corti N., Sennhauser F.H., Stauffer U.G., et al (2003), "Fosfomycin for the initial treatment of acute haematogenous ostemoyelitis", Archives of disease in childhood, 88(6), pp. 512-516.
6. Harik N.S., Smeltz M.S. (2010), “Management of acute hematogenous osteomyelitis in the children”, Expert Rew Anti Infect Ther, 8(2), pp. 175-81.
7. Nguyen Ngoc Hung (2010),“Cortical bone fenestrations with continuous antibiotic irrigation to mediate hematogenous tibial osteomyelitis in children”Journal of Pediatric Orthopaedics B, 19(6), pp. 497-506.
8. Thakolkaran N, Shetty A.K, (2019), “Acute Hematogenous Osteomyelitis in Children”, Ochsner J, 19(2), pp116–122.