Đặc điểm kiểu hình hen dị ứng ở trẻ em

Nguyen Thi Bich Hanh, Le Thi Minh Huong, Duong Quy Sy

Main Article Content

Tóm tắt

Đặt vấn đề/Mục tiêu: Phân loại kiểu hình hen dị ứng và không dị ứng giúp tối ưu hóa điều trị kiểm soát hen. Nghiên cứu này đánh giá sự khác biệt về bạch cầu ái toan trong máu, nồng độ IgE toàn phần trong huyết thanh, nồng độ FENO (nitric oxide in exhaled breath) trong khí thở ra của trẻ bị hen dị ứng và không dị ứng.


Phương pháp: Tiến cứu, mô tả loạt ca bệnh. Đối tượng là bệnh nhân hen phế quản tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Biến số nghiên cứu: số lượng bạch cầu ái toan máu; nồng độ IgE huyết thanh, test lẩy da với các dị nguyên hô hấp; FEV1 và nồng độ oxit nitrit trong khí thở ra.


Kết quả: 141 bệnh nhân hen phế quản, tuổi trung bình 9 ± 2,3; nam 63,8%. 75,9%  có tiền sử dị ứng, viêm mũi dị ứng là bệnh đồng mắc phổ biến nhất (67,4%). Test lẩy da dương tính với mạt bụi nhà Df, Dp và Blomia lần lượt 78,0%, 75,9% và 68,8%. Trẻ hen dị ứng có số lượng bạch cầu ái toan máu cao hơn nhóm không dị ứng (630 ± 494 G/L so với 344,0 ± 320 G/L); nồng độ IgE cũng cao hơn (748,0 UI/mL so với 353,0 UI/mL). FENO ở bệnh nhân hen hen dị ứng cao hơn hen không dị ứng (25,3 ± 1,8 ppb so với 15,8 ± 4,0 ppb; p = 0,055). Không có sự khác biệt có ý nghĩa về giá trị FEV1, giới tính, chỉ số BMI, mức độ hen phế quản giữa hen dị ứng và không dị ứng.


Kết luận: Test lẩy da, IgE toàn phần, bạch cầu ái toán máu ngoại vi, nồng độ FENO là các chất chỉ điểm cho tình trạng viêm dị ứng ở trẻ hen.

Article Details

Từ khóa

Hen dị ứng, tăng bạch cầu ái toan, IgE, FeNO, FEV1.

Các tài liệu tham khảo

[1] Moore WC, Meyers DA, Wenzel SE et al. Identification of asthma phenotypes using cluster analysis in the Severe Asthma Research Program. Am J Respir Crit Care Med 2010;181(4):315-323.
https://doi.org/10.1164/rccm.200906-0896OC.
[2] Dweik RA, Boggs PB, Erzurum SC et al. An official ATS clinical practice guideline: interpretation of exhaled nitric oxide levels (FENO) for clinical applications. Am J Respir Crit Care Med 2011;184(5):602-615. https://doi.org/10.1164/rccm.9120-11ST.
[3] Almqvist C, Worm M, Leynaert B. Impact of gender on asthma in childhood and adolescence: a GA2LEN review. Allergy 2008;63(1):47-57. https://doi.org/10.1111/j.1398- 995.2007.01524.x
[4] Douwes J, Gibson P, Pekkanen J et al. Non-eosinophilic asthma: importance and possible mechanisms. Thorax 2002;57(7):643-648. https://doi.org/ 10.1136/thorax.57.7.643.
[5] Sy DQ, Thuc VM, Thong HH et al. Study of nasal exhaled nitric oxide levels in diagnosis of allergic rhinitis in subjects with and without asthma. J Asthma Allergy 2017;10:75-82.https://doi.org/ 10.2147/JAA.S129047
[6] Silvestri M, Sabatini F, Spallarossa D et al. Exhaled nitric oxide levels in non-allergic and allergic mono- or polysensitised children with asthma. Thoraxn 2001;56(11):857. https://doi.org/10.1136/thorax.56.11.857
[7] Cibella F, Cuttitta G, La Grutta S et al. Factors that influence exhaled nitric oxide in Italian schoolchildren. Ann Allergy Asthma Immunol 2008;101(4): 407-412. https://doi.org/10.1016/S1081-1206(10)60318-3.
[8] Enrique Vega-Briceño L, Sanchez I (2006). Nitric oxide in children with persistent asthma.
[9] Hau TT, Trang LH, Huong LTT. Quality of life of the asthmatic patients. Journal of Pediatric Research and Practice 2018;6:66-72. https://doi.org/10.25073/jprp.v0i6.135