Đặc điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết quả cắt polyp đại trực tràng ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Thái Bình

Trần Trọng Kiểm, Đặng Văn Nghiễm, Nguyễn Minh Nguyệt, Nguyễn Ngọc Sáng

Main Article Content

Tóm tắt

Mục tiêu: Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết quả cắt polyp đại trực tràng ở trẻ em, tại Bệnh viện Nhi Thái Bình.
Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được khám, chẩn đoán và được cắt Polyp đại trực tràng tại Bệnh viện Nhi Thái Bình từ 01/7/2017 đến 30/6/2018.
Phương pháp: Mô tả tiến cứu một loạt ca bệnh.
Kết quả: Polyp đại trực tràng gặp cao nhất ở lứa tuổi dưới 5 tuổi chiếm 68,3%. Triệu chứng chủ yếu của trẻ nhập viện là ỉa phân dính máu chiếm 95,2%. 66,7% trẻ ỉa phân dính máu đến khi nhập viện từ 01 đến 06 tháng. 77,8% polyp có bề mặt trơn láng. Vị trí polyp chủ yếu nằm ở trực tràng chiếm 79,4%, 05 bệnh nhân có 02 polyp (8%), 03 bệnh nhân có trên 02 polyp (4,8%), còn lại là polyp đơn độc chiếm 87,3%. 82,5% polyp thiếu niên, polyp u tuyến và polyp xơ viêm chiếm lần lượt 8% và 9,5%, không có polyp không xếp loại và không có hình ảnh loạn sản. 100% trẻ được cắt thành công polyp đại trực tràng. 23,8% trẻ ra viện sau chưa tới 24 giờ cắt polyp, 73,0% trẻ ra viện sau 24 - 48 giờ cắt polyp, có 3,2% trẻ ra viện sau 48 giờ cắt polyp. Sau 03 tháng và 06 tháng có số trẻ tái khám không thiếu máu và có tổ chức sẹo tốt,
không có bệnh nhân nào có polyp tái phát.
Kết luận: Polyp đại trực tràng gặp nhiều ở trẻ dưới 5 tuổi, nam nhiều hơn nữ. Ỉa phân máu là triệu chứng thường gặp; các kiểu hình polyp thường gặp là polyp cuống, đơn độc, có bề mặt trơn láng, kích thước từ 1 đến 2 cm, chủ yếu ở trực tràng. Cắt thành công polyp đại trực tràng cho 63 bệnh nhi không xuất hiện biến chứng và tái phát nào sau 3 và 6 tháng.

Article Details

Từ khóa

trẻ em, polyp đại trực tràng

Các tài liệu tham khảo

Nguyễn Văn Đức (1989), “Polyp đường tiêu hóa trẻ em, phẫu thuật bụng ở trẻ sơ sinh và trẻ em”, Bộ môn phẫu thuật Nhi, tập 1, Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.
Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Mai Hội, Đỗ Đức Vân (2001), “Điều trị cắt Polyp đại trực tràng trẻ em bặng nội soi ống mềm”, Y học Việt Nam, số 8/2001.
Phạm Đức Lễ, Võ Công Đồng, Nguyễn Đỗ Nguyên (2005), “Nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng polyp đại trực tràng trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng I năm 2005”, Tạp chí Y Dược Học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 9, tr.190-195.
Nguyễn Thanh Liêm (2000), “Bệnh tiêu hóa”, Phẫu thuật tiêu hóa trẻ em, NXB Y Học, tr.293- 301.
Nguyễn Thị Mỹ Lệ (2014), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh đại thể và mô bệnh học của polyp từ đại tràng đến trực tràng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Huế”, Luận văn thạc sỹ của bác sỹ nội trú.
Đặng Bá Soãi (2008), “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, nội soi và kết quả cắt polyp trực tràng, đại tràng xích-ma ở trẻ em”, Luận án bác sỹ chuyên khoa cấp II.
Hoàng Trọng Thảng (2006), “Nội soi tiêu hóa”, Bệnh tiêu hóa gan mật, NXB Y Học, tr.23-24.
Kay M, Eng K, Wyllie R. (2015), “Colonic polyps and polyposis syndromes in pediatric patients.”, Curr Opin Pediatr.;27(5):634-41.
Kay M., Wyllie R. (2016), “It’s all about the loop: quality indicators in pediatric colonoscopy.”, Gastrointest Endosc.;83(3):542-4.
Mandhan P (2004), “Juvenile colorectal polyps in children: experience in Pakistan.”, Pediatr Surg Int, 20(5), pp. 339-42.
Jogo T, Maehara Y. (2018), “Non-familial juvenile polyposis of the stomach with gastric cancers: a case report.”, Surg Case Rep., 24;4(1):79. doi: 10.1186/s40792- 018-0488-2.
Solomon I, Slavin TP. (2018), “Experience Gained from the Development and Execution of a Multidisciplinary Multi-syndrome Hereditary Colon Cancer Family Conference.”, J Cancer Educ. doi: 10.1007/s13187-018-1430-9.