Đánh giá tiên lượng tử vong tại Khoa Hồi sức Sơ sinh bằng thang điểm SNAP-II

Nguyễn Thị Kim Nhi, Phạm Lê An, Phùng Nguyễn Thế Nguyên

Main Article Content

Tóm tắt

Mục tiêu: Mặc dù các phương tiện điều trị và chăm sóc trẻ sơ sinh ngày càng tiến bộ, tuy nhiên tỷ lệ tử vong sơ sinh đặc biệt tại các Khoa Hồi sức Sơ sinh (HSSS) vẫn còn rất cao ở các nước đang phát triển. Nghiên cứu nhằm xác định giá trị tiên đoán tử vong của thang điểm SNAP- II cho trẻ sơ sinh tại Khoa HSSS.
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, theo dõi dọc trên các trẻ sơ sinh 0- 28 ngày tuổi nhập vào Khoa HSSS Bệnh viện Nhi Đồng 2 trong khoảng thời gian 12/2016 - 06/2018. Trẻ được thu thập số liệu theo bệnh án mẫu trong 12 giờ đầu, trong đó có thang điểm SNAP-II. Trẻ được theo dõi kết quả điều trị sống hay chết cho đến khi xuất viện. Loại trừ các trường hợp chuyển khoa hay xuất trong 24 giờ sau khi nhập khoa HSSS, các trẻ đa dị tật không phù hợp cuộc sống.
Kết quả: Có 552 trường hợp thỏa tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu. Tỷ lệ tử vong trong nghiên cứu là 23,6%. Có nhiều yếu tố nguy cơ tử vong trong nghiên cứu như tuổi thai < 37 tuần OR 1,71 KTC (1,13 - 2,59) p= 0,01; trẻ có bệnh ngoại khoa: OR 1,62 KTC (1,06 - 2,49) p= 0,025; trẻ có sốc: OR 106,87 (42,31 - 269,91) p= 0,000; điểm số Apgar lúc 5 phút < 7: OR 2,80 KTC (1,82 - 4,30) p= 0,000; trẻ có phù bị lúc nhập viện: OR 4,66 KTC (1,92 - 11,34) p= 0,001, trẻ có địa chỉ ở tỉnh: OR 1,93 (1,05 - 3,55) p= 0,032. Điểm số SNAP-II trong 12 giờ nhập khoa. HSSS ở nhóm tử vong cao hơn đáng kể so với nhóm sống: OR 6,03(3,94 - 9,23) p= 0,000. SNAP-II ≥ 13,5 có giá trị tiên đoán tử vong với độ nhạy 64,6%, độ đặc hiệu 76,8% và giá trị diện tích dưới đường cong 0,737.
Kết luận: Trẻ có cân nặng lúc sinh < 2500gr, có bệnh ngoại khoa, có sốc, chỉ số Apgar lúc 5 phút <7, có phù bì lúc nhập viện, có địa chỉ ở tỉnh, điểm số SNAP- II lúc nhập khoa HSSS ≥ 13,5 là các yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong. Điểm số SNAP- II ≥ 13,5 có độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 64,6% và 76,8% trong tiên đoán tử vong. Diện tích dưới đường cong của SNAP- II 0,737.

Article Details

How to Cite
Nhi, N. T. K., An, P. L., & Nguyên, P. N. T. (2019). Đánh giá tiên lượng tử vong tại Khoa Hồi sức Sơ sinh bằng thang điểm SNAP-II. Tạp Chí Nghiên cứu Và Thực hành Nhi Khoa, 3(2). Truy vấn từ https://jprp.vn/JPRP/article/view/126

Các tài liệu tham khảo

Phạm Lê An (2004), “Đánh giá tiên lượng tử vong ở trẻ em tại Khoa Hồi sức”, Luận án tiến sĩ Y học.
Tăng Chí Thượng (2009), “Mô hình bệnh tật sơ sinh tại Khoa Săn Sóc Tăng Cường Sơ sinh Bệnh viện Nhi đồng 1”, Y Học Thành phố Hồ Chí Minh, tập 13, số 5
Lê Thái Thiên Trinh (2008) “Các yếu tố nguy cơ gây tử vong trẻ sơ sinh tại Khoa Nhi Bệnh viện An Giang”
Berry MA (2008), “Predictors of mortality and length of stay for neonates admitted to children’s hospital neonatal intensive care units”, Journal of Perinatology 28, 297-302
Bolisetty Srinivas, Legge Nele, Bajuk Barbara and Lui Kei (2015). “Preterm Infants outcomes in New South Wales and The Australian Capital Territory”, Journal of Paediatrics and Child Health
John A. F. Zupancic (2007), “Revalidation of the Score for Neonatal Acute Physiology in the Vermont Oxford Network”, Pediatrics, Volume 119, Number 1
Mariani Schlabendorff Zardo (2003) “Comparison between different mortality risk scores in a neonatal intensive care unit”, Rev Saúde Pública; 37(5); pp 591 - 596
Masoumeh Mohkam (2011), “A comparison of CRIB, CRIB II, SNAP, SNAP- II and SNAPPE scores for prediction of mortality in critically ill neonates”, Medical Journal of the Islamic Republic of Iran : 24, No. 4, pp. 193-199.s
Mirta Noemi Mesquita Ramirez (2014), “SNAP II and SNAPPE II as Predictors of Neonatal Mortality in a Pediatric Intensive Care Unit: Does Postnatal Age Play a Role?”, International Journal of Pediatrics, Article ID 298198