Nghiên cứu rối loạn nhịp nhanh bộ nói tăng tính kích thích và nhận xét kết quả điều trị sớm sau phẫu thuật tim mở tim bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Nguyễn Hương Giang, Đặng Thị Hải Vân

Main Article Content

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Rối loạn nhịp nhanh bộ nối tăng tính kích thích (Junction Ectopic Tachycardia - JET) đặc trưng bởi nhịp tim nhanh với phức bộ QRS hẹp và phân ly nhĩ thất, xuất hiện sớm trong 24 - 48 giờ sau phẫu thuật, gây ảnh hưởng đến diễn biến điều trị và kết quả hồi sức bệnh nhân sau phẫu thuật. Các yếu tố nguy cơ trước - trong - sau phẫu thuật liên quan tới rối loạn nhịp JET là gì? Các phương pháp điều trị hiện nay chưa có cách lựa chọn nào thực sự tốt nhất.
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ rối loạn nhịp JET, các yếu tố liên quan và nhận xét kết quả điều trị sớm rối loạn nhịp JET sau phẫu thuật tim mở tim bẩm sinh.
Đối tượng và phương pháp: Mô tả trên 494 bệnh nhân sau phẫu thuật tim mở tim bẩm sinh được hồi sức tại Khoa Hồi sức Ngoại tim mạch – Bệnh viện Nhi Trung ương từ 01/12/2017 đến 30/06/2018.
Kết quả: Tỷ lệ JET trong tổng số rối loạn nhịp tim là 26,1%. Tỷ lệ JET cao nhất ở nhóm thông liên thất - hẹp eo/gián đoạn quai động mạch chủ (19,0%), tiếp đó là tứ chứng Fallot (15,4%). Các yếu tố như tuổi phẫu thuật nhỏ, cân nặng thấp, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể kéo dài, thời gian cặp chủ kéo dài và hạ kali máu có nguy cơ gây rối loạn nhịp JET sau phẫu thuật (p<0,001). Tỷ lệ dùng thuốc cordarone chiếm tỷ lệ cao nhất (82,6%), tiếp đến là phương pháp chườm mát (73,9%), đặt máy tạo nhịp vượt tần số (65,2%). Hầu hết bệnh nhân rối loạn nhịp JET đều phải sử dụng các phương pháp điều trị phối hợp. Tất cả bệnh nhân rối loạn nhịp
JET đều trở về nhịp xoang và không có bệnh nhân nào tử vong.


Kết luận: Rối loạn nhịp JET thường gặp nhất, xuất hiện sớm trong 24 giờ sau phẫu thuật,
đặc biệt sau sửa toàn bộ tứ chứng Fallot và vá thông liên thất. Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ
liên quan trước - trong - sau phẫu thuật để hạn chế loại rối loạn nhịp này. Bệnh nhân rối loạn
nhịp JET đáp ứng tốt với điều trị thuốc cordarone và liệu pháp hạ thân nhiệt.

Article Details

How to Cite
Giang, N. H., & Vân, Đặng T. H. (2019). Nghiên cứu rối loạn nhịp nhanh bộ nói tăng tính kích thích và nhận xét kết quả điều trị sớm sau phẫu thuật tim mở tim bẩm sinh tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tạp Chí Nghiên cứu Và Thực hành Nhi Khoa, 3(2). Truy vấn từ https://jprp.vn/JPRP/article/view/120

Các tài liệu tham khảo

Andreasen J.B, Johnsen S.P, Ravn H.B et al (2008). Junctional ectopic tachycardia after surgery for congenital heart disease in children. Intensive Care Medicine. 34(5), 895-902.
Kamel YH, et al (2009). Arrhythmias as Early Postoperative Complications of Cardiac Surgery in Children at Cairo University. Journal of Medical Science. 9, 126-132.
Batra A.S, Chun D.S et al (2006). A Prospective Analysis of the Incidence and Risk Factors Associated with Junctional Ectopic Tachycardia Following Surgery for Congenital Heart Disease. Pediatric Cardiology. 27(1), 51-55.
Sahu M.K, Das A, Siddharth B et al (2018). Arrhythmias in Children in Early Postoperative Period After Cardiac Surgery. World Journal for Pediatric and Congenital Heart Surgery, 9 (1), 38-46.
Hoffman, Timothy M et al (2002). Postoperative junctional ectopic tachycardia inchildren: incidence, risk factors, and treatment. The Annals of Thoracic Surgery. 74(5), 1607-1611.
Abdelaziz O, et al (2014). Anticipation and management of junctional ectopic tachycardia in postoperative cardiac surgery: Single center experience with high incidence. Annals of Pediatric Cardiology. 7(1), 19-24.
Zampi Jeffrey D, Hirsch Jennifer C et al (2012). Junctional Ectopic Tachycardia After Infant Heart Surgery: Incidence and Outcomes. Pediatric Cardiology. 33(8), 1362- 1369.
Kovacikova L, Hakacova N et al (2009). Amiodarone as a first-line therapy for postoperative junctional ectopic tachycardia. Ann Thorac Surg. 88(2), 616-22.